 |
 |
 |
 |
Diện tích: 6.808 km2. Dân số (2004): 701.145 người. Tỉnh lỵ: Thị xã Yên Bái. Các huyện: Thị xã Nghĩa Lộ; huyện: Lục Yên, Văn Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu. Dân tộc: Việt (Kinh), Tày, Nùng, Thái, Mường, Cao Lan, Khơ Mú, Phù Lá, Giáy.
|
 |
Yên Bái là tỉnh
nằm sâu trong nội địa nhưng lại là cửa ngõ
của miền tây bắc, là đầu mối giao thông giữa
đông bắc và tây bắc, giữa cửa khẩu Lào
Cai và Hà Nội. Phía bắc tỉnh Yên Bái giáp Lào Cai, phía tây giáp
Sơn La, phía đông giáp Tuyên Quang, phía nam giáp Phú Thọ.
|
 |
Yên Bái là tỉnh có nhiều dải rừng lớn. Rừng có nhiều gỗ quí như Pơmu, lát hoa, Chò Chỉ... Nhiều cây dược liệu và nhiều loại động vật quí hiếm. Sản vật của tỉnh Yên Bái là quế Văn Yên, chè suối Giàng, nếp Tú Lệ. Yên Bái có mỏ đá quí nổi tiếng Lục Yên. Khí hậu chia làm hai vùng, vùng thấp và vùng cao. Nhiệt độ trung bình năm 18 - 28° C.
|
 |
Yên
Bái gồm toàn rừng núi và thung lũng, một
loạt những dãy núi cao từ 2.000 tới 2.500 m (7,500
ft) phân cách hai khu vực sông Hồng Hà và sông Đà (Hắc
Giang), tỏa ra nhiều nhánh về phía sông Hồng Hà. Giữa sông
Hồng Hà và sông Chảy có một dãy núi lởm chởm thấp
hơn, ít có ngọn nào cao hơn quá 1.000 m (3,000 ft). Yên Bái nằm
trên một địa tầng của hồ xưa, cấu tạo bởi
những lớp đá sỏi, lớp phiến nham lẫn
đá sỏi và những lớp sạn. Hồng Hà là sông quan
trọng nhất của Yên Bái, chảy qua suốt tỉnh theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam. Ngoài ra tỉnh này còn một số
sông nhỏ như: Ngòi Nhu, Ngòi Chan, Ngòi Hút, Ngòi Tra, Ngòi Lau...
|
 |
Thị Xã Yên Bái là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa của tỉnh. Tỉnh Yên Bái có nhiều di tích lịch
sử văn hóa. Thắng cảnh Yên Bái còn giữ được nhiều
vẻ hoang sơ, môi trường sinh thái chưa bị ô nhiễm
rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
|
|
 |
 |
 |
|
 |